Đối với trường hợp người đang hưởng chế độ bệnh hiểm nghèo,chết vào những ngày cuối năm 2025. Thời gian nộp đơn đề nghị giải quyết mai táng phí lúc Nghị quyết 101/2023/NQ-HĐND ngày 14/12/2023 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng (cũ) về sửa đổi bổ sung Nghị Quyết 34/20221/NQ-HĐND ngày 12/08/2021 của HĐND thành phố thông qua mức chuẩn trợ cấp xã hội, mức trợ giúp xã hội và mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hết hiệu lực thi hành và đã thực hiện theo Nghị quyết 41/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng về một số chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Phòng Văn hóa xã hội đã gửi Công văn số 533/UBND-PVHXH đã đề nghị Sở y tế có văn bản hướng dẫn cụ thể để giải quyết kịp thời cho người dân.
Theo quy định về thủ tục giải quyết chế độ bệnh hiểm nghèo theo Nghị quyết số 41, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ phải có giấy ra viện thể hiện người bệnh đang ở giai đoạn cuối (giai đoạn IV) làm căn cứ xem xét giải quyết chế độ. Tuy nhiên, trong quá trình đề nghị hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng cho bà Huỳnh Thị Phương Hoanh, ông Nguyễn Văn Hùng ban đầu chỉ cung cấp giấy xác nhận bệnh, chưa đảm bảo đầy đủ thành phần hồ sơ theo quy định nên chưa đủ cơ sở để xem xét giải quyết chế độ. Sau khi được cơ quan chuyên môn hướng dẫn bổ sung hồ sơ theo đúng quy định, ông Nguyễn Văn Hùng đã hoàn thiện và nộp bổ sung giấy ra viện của bà Huỳnh Thị Phương Hoanh. Trên cơ sở hồ sơ đã đầy đủ, chuyên viên đã tiếp nhận, thẩm định và tham mưu ban hành quyết định hưởng chế độ bệnh hiểm nghèo đối với bà Huỳnh Thị Phương Hoanh kể từ tháng 4 năm 2026.
Sở Nội vụ trả lời câu hỏi của ông/bà như sau:
Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 24/2018/NĐ-CP ngày 27/02/2018 của Chính phủ quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động quy địnhvề hình thức khiếu nại:
“1. Khiếu nại thực hiện bằng hình thức gửi đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp, được quy định như sau:
a) Khiếu nại bằng hình thức gửi đơn thì trong đơn khiếu nại ghi rõ nội dung sau đây: ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại (nếu có) và yêu cầu giải quyết khiếu nại. Đơn khiếu nại do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ;
b) Khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận khiếu nại ghi lại đầy đủ nội dung khiếu nại theo quy định tại điểm a khoản này và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản.”
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 15 Nghị định số 24/2018/NĐ-CPquy định:
“1. Người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về lao động, an toàn, vệ sinh lao động của mình bị khiếu nại.
2. Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động khi người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu theo quy định tại Điều 23 hoặc đã hết thời hạn quy định tại Điều 20 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết.”
Tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 190/2025/QH15ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nướcquy định:
“Cơ quan sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước không còn tổ chức thanh tra thì người đứng đầu giao đơn vị trực thuộc thực hiện chức năng, nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp khiếu nại bằng hình thức gửi đơn thì trong đơn khiếu nại ghi rõ nội dung sau đây: ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại (nếu có) và yêu cầu giải quyết khiếu nại. Đơn khiếu nại do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ. Nếu ở xa, Bà có thể gửi đơn qua dịch vụ bưu chính.
Đơn khiếu nại được gửi đến Công ty nơi Bà làm việc để được thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu.
Khi không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu theo quy định tại Điều 23 hoặc đã hết thời hạn quy định tại Điều 20 Nghị định số 24/2018/NĐ-CP mà khiếu nại không được giải quyết thì Bà có thể gửi đơn khiếu nại đến Sở Nội vụ nơi Công ty đặt trụ sở chính để giải quyết khiếu nại lần hai.
Trong trường hợp có vướng mắc, đề nghị liên hệ Sở Nội vụ (thông qua Phòng Lao động, việc làm, số điện thoại: 02363822124) để được hỗ trợ, hướng dẫn theo quy định pháp luật./.
Em tên là Hồ Thị Diệu, Mẹ em là bà Võ Thị Tiến, quê quán tại Tổ 19, Thôn Lý Trường, Xã Thăng Phú, Thành phố Đà Nẵng.
Em xin phép được trình bày đôi điều về hoàn cảnh gia đình và mong Phòng xem xét, hỗ trợ giải đáp giúp em một số vấn đề sau:
Gia đình em hiện chỉ có hai mẹ con, mẹ em là người khuyết tật nặng, trước đây có được nhận trợ cấp khuyết tật hàng tháng với mức 750.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, trong vài tháng gần đây, em nhận thấy mẹ không còn được nhận khoản trợ cấp này nữa.
Em có nghe nói sau khi địa phương thực hiện việc sáp nhập, gộp xã, có thể một số trường hợp phải xét lại hồ sơ hoặc bổ sung giấy tờ để được tiếp tục hưởng trợ cấp. Vì vậy, em xin được hỏi:
Trường hợp của mẹ em có cần làm lại hồ sơ hoặc xác nhận mới để tiếp tục nhận trợ cấp người khuyết tật hay không ạ?
Nếu có, em cần liên hệ hoặc nộp hồ sơ ở đâu, và gồm những giấy tờ gì?
Bên cạnh đó, gia đình em thuộc diện hộ nghèo (có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã cấp). Em thấy một số hộ nghèo khác trong xã có nhận được khoản hỗ trợ hàng tháng, trong khi gia đình em chưa được hưởng.
Hiện nay, mẹ em không có khả năng lao động, còn em thì đang đi học. Để có thể phụ giúp mẹ, em có đi làm thêm ngoài giờ học, nhưng thu nhập rất ít. Từ trước đến nay, hai mẹ con đều dựa vào số tiền trợ cấp ấy để trang .
Vì vậy, em rất mong Phòng xem xét giúp em biết liệu gia đình em có đủ điều kiện để được hưởng chính sách trợ cấp hộ nghèo hằng tháng hay không.
Nếu có, em kính mong Phòng hướng dẫn em các thủ tục, hồ sơ cần thiết để có thể làm lại hoặc bổ sung cho mẹ em theo đúng quy định.
Hiện nay em đang đi học và làm thêm ở xa, nên không thể trực tiếp đến xã hay huyện hỏi thăm được. Em rất mong Quý Phòng thông cảm và hướng dẫn giúp em cách làm để mẹ em có thể tiếp tục nhận được trợ cấp ạ.
Em xin chân thành cảm ơn Quý Phòng đã luôn quan tâm, hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn như gia đình em.
Kính chúc Quý anh/chị trong Phòng dồi dào sức khỏe, công tác thuận lợi và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Trân trọng,
Hồ Thị Diệu LinhSĐT liên hệ: 0357570625 (SĐT của mẹ em: 0393505640)Địa chỉ thường trú cũ: Tổ 19, thôn Lý Trường, xã Bình Phú (nay là xã Thăng Phú), huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng NamHiện đang học tập và sinh sống tại Đà Nẵng.
———Email này được gửi với mong muốn được hướng dẫn, giải đáp thắc mắc về việc tạm ngừng trợ cấp người khuyết tật và thủ tục xin trợ cấp hộ nghèo cho mẹ em.
Phòng Văn hoá – Xã hội xã Thăng Phú nhận được ý kiến phản ánh của công dân Hồ Thị Diệu Linh ở tại tổ 19 thôn Lý Trường, xã Thăng Phú, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, Phòng Văn hóa - Xã hội xã Thăng Phú trả lời ý kiến phản ánh của công dân như sau: - Trường hợp bà Võ Thị Tiến, sinh ngày 01/01/1968, CCCD số: 049168010191, ở tại thôn Phước Hà, xã Thăng Thăng Phú, hiện đang hưởng chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội 750.000 đồng/ tháng (thuộc đối tượng người khuyết tật nặng từ 16 -60 tuổi). Hồ sơ lưu đối tượng bảo trợ xã hội của xã Bình Phú (cũ) của bà Võ Thị Tiến thể hiện nơi thường trú tại thôn Phước Hà. Hiện nay, nếu nơi thường trú có sự thay đổi (ở thôn Lý Trường) thì đề nghị gia đình cung cấp giấy xác nhận nơi cư trú và liên hệ Phòng Văn hóa – Xã hội xã Thăng Phú để thực hiện điều chỉnh thông tin. - Trường hợp bà Võ Thị Tiến thuộc đối tượng hộ nghèo không có khả năng lao động thì gia đình liên hệ Phòng Kinh tế xã Thăng Phú để được hướng dẫn hồ sơ hưởng chế độ theo quy định. Phòng Văn hoá - Xã hội xã Thăng Phú trả lời để công dân Hồ Thị Diệu Linh được biết./.
UBND phường Điện Bàn Đông đã chỉ đạo chuyên viên Phòng Văn hóa _ Xã hội phụ trách chi trả tại khối phố Tân Khai chi trả quà Tết cho đối tượng, có sự chứng kiến của đồng chí Lê Ngọc Hoàng - Trưởng khối phố Tân Khai
Về vấn đề này, UBND xã đã kiểm tra và trả lời như sau: Kinh phí chi trả tháng 9, 10, 11 địa phương phải chờ kinh phí phân bổ của UBND thành phố mới thực hiện chi trả. Khi UBND thành phố phân bổ kinh phí nhưng trong thời gian bão lũ nên địa phương chưa thực hiện chi trả kịp thời. Hiện nay, việc chi trả cho công dân đã được UBND thực hiện chi trả theo quy định. Trân trọng kính báo.
Tôi tên Nhung, là nhân viên hành chính nhân sự của công ty TNHH Oishi Industries VN.
Trong 3 tháng cuối năm 2025, công ty chúng tôi muốn xin đăng ký tổ chức làm thêm đến 300 giờ. Hiện nay việc sát nhập các bộ, ban, ngành cũng như văn bản pháp luật có nhiều thay đổi, cho tôi hỏi những hồ sơ thủ tục cần nộp theo mẫu nào, cơ quan tiếp nhận và hình thức nộp như thế nào?
Mong cơ quan chức năng có hướng dẫn. Xin cảm ơn!
Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng nhận được câu hỏi của đơn vị liên quan đến tổ chức làm thêm giờ. Về nội dung này, Sở Nội vụ có ý kiến như sau:
Tại khoản 3, khoản 4 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“3. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
a) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
b) Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
c) Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
d) Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yêu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyên sản xuất;
đ) Trường hợp khác do Chính phủ quy định.
4. Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.”
Tại Điều 61, Điều 62 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động quy định
“Điều 61. Các trường hợp được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 3 Điều 107 của Bộ luật Lao động, các trường hợp sau đây được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm:
1. Các trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn phát sinh từ các yếu tố khách quan liên quan trực tiếp đến hoạt động công vụ trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, trừ các trường hợp quy định tại Điều 108 của Bộ luật Lao động.
2. Cung ứng dịch vụ công; dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; dịch vụ giáo dục, giáo dục nghề nghiệp.
3. Công việc trực tiếp sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp thực hiện thời giờ làm việc bình thường không quá 44 giờ trong một tuần.
Điều 62. Thông báo về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
1. Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động phải thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các nơi sau:
a) Nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm;
b) Nơi đặt trụ sở chính, nếu trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
2. Việc thông báo phải được thực hiện chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày thực hiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
3. Văn bản thông báo theo Mẫu số 02/PLIV Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này.”
Đề nghị đơn vị rà soát trường hợp thực tế tại đơn vị và đối chiếu trường hợp được tổ chức làm thêm giờ theo quy định nêu trên để tổ chức làm thêm giờ.
Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, đơn vị phải thông báo cho Sở Nội vụ tại các nơi sau:
- Nơi đơn vị tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm;
- Nơi đặt trụ sở chính, nếu trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với nơi đơn vị tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
Việc thông báo phải được thực hiện chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày thực hiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm. Văn bản thông báo theo Mẫu số 02/PLIV Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP.
Vậy, Sở Nội vụ trả lời để đơn vị được biết, thực hiện./.
Sở Nội vụ nhận được câu hỏi của bà liên quan đến việc đơn vị sử dụng lao động nợ lương và khởi kiện tại tòa án để giải quyết, về trường hợp này, Sở Nội vụ có ý kiến như sau:
Tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.”
Căn cứ quy định nêu trên, tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị bà liên hệ Sở Nội vụ (thông qua Phòng Lao động, việc làm, tầng 19, Trung tâm Hành chính thành phố Đà Nẵng, số 24 Trần Phú, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) để hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện theo quy định./.
Sở Nội vụ nhận được câu hỏi của Bà liên quan đến ngày nghỉ hằng năm, về trường hợp này, Sở Nội vụ có ý kiến như sau:
Tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.”
Căn cứ quy định nêu trên, khi người lao động thôi việc mà chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Trong trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của người sử dụng lao độngvi phạm pháp luật lao động, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Bà có thể thực hiện quyền khiếu nại theo quy định tại Điều 15, Nghị định số 24/2018/NĐ-CP ngày 27/02/2018 của Chính phủ quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động.
Sở Nội vụ trả lời để Bà được biết, thực hiện./.
Tôi tìm hiểu theo thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 có hiệu lực từ ngày 01/03/2021.
Có nhóm ngành số V - Xây dựng giao thông và kho tàng bến bãi (mục 24-trắc địa địa hình, địa chất khảo sát đường bộ , đường sông và đường biển).
Tôi học ngành cử nhân địa chất công trình, ký hợp đồng hợp với Công ty CP tư vấn XDCT giao thông 5 (từ năm 1996 đến nay 2025, qua rất nhiều đời NSDLĐ). Tôi làm việc chính là khảo sát địa chất hiện trường rừng, núi, sông biển….. Tuy nhiên, giờ tuổi lớn sức khoẻ không đảm bảo để đi rừng núi nữa, tôi có nguyện vọng chuyển công việc khác. Nên đã tìm hiểu lại HĐLĐ của mình thì có nhiều loại hợp đồng như sau:
1/ HĐLĐ lần 1 năm 1996: (kèm theo QĐ207/LĐ-TBXH-QĐ ngày 02/4/1993 của Bộ LĐTBXH tôi ký với NSDLĐ ký năm 1996, mục nghề nghiệp kỹ sư địa chất công trình.
2/ HĐLĐ lần 2 năm 2006: (kèm theo Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ LĐTBXH, tôi ký với NSDLĐ ký năm 2006, mục nghề nghiệp kỹ sư địa chất công trình (do mình tư ghi theo hợp đồng cũ).
3/ HĐLĐ lần 3 năm 2018: (kèm theo Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ LĐTBXH, tôi ký với NSDLĐ ký năm 2018, mục nghề nghiệp cử nhân địa chất công trình
Vây, tôi muốn hỏi cơ quan BHXH Đà Nẵng, theo các hợp lao động tôi đã ký với NSDLĐ và công việc thực tế tôi đang làm nghề khảo sát địa chất đường bộ thì tôi có được xếp vào loại ngành nghề lao động nặng nhọc không? Và các thủ như thế nào để chứng minh tôi đã tham giao ngành nghề này từ năm 1996 đến nay? Và có thể hướng dẫn tôi có cần điều chỉnh lại HĐLĐ nào cho đúng ngành nghề khảo sát địa chất như tôi đang làm phù hợp với thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH? Và tôi có thể liên hệ bộ phận nào để xác nhận việc này? Rất mong sớm nhận được trả lời. Trân trọng cảm ơn
Trả lời:
Hiện nay, nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (NNĐHNH) hoặc đặc biệt NNĐHNH làm căn cứ tính hưởng BHXH được áp dụng theo Danh mục ban hành kèm theo Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ LĐ-TB&XH. Theo đó:
- Để người lao động làm các nghề, công việc NNĐHNH hoặc đặc biệt NNĐHNH được hưởng đầy đủ quyền lợi theo quy định của pháp luật, ngoài việc phải đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, người sử dụng lao động khi đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động phải ghi đầy đủ tên nghề, công việc theo đúng quy định tại Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH
- NLĐ làm các nghề, công việc NNĐHNH hoặc đặc biệt NNĐHNH được thực hiện các chế độ bảo hộ lao động, tiền lương và BHXH.
- Thời gian NLĐ làm các nghề, công việc ban hành kèm theo các quyết định, thông tư bị bãi bỏ theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH vẫn được tính là thời gian làm các nghề, công việc NNĐHNH hoặc đặc biệt NNĐHNH cho đến ngày Thông tư này có hiệu lực.
Đề nghị bạn đối chiếu quy định nêu trên để thực hiện. Trường hợp bạn thực sự làm nghề, công việc NNĐHNH hoặc đặc biệt NNĐHNH, hồ sơ thể hiện làm nghề, công việc NNĐHNH thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH ban hành, có hưởng lương và đóng BHXH theo nghề, công việc này nhưng sổ BHXH ghi chưa đúng chức danh nghề, công việc NNĐHNH thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH ban hành, thì bạn đề nghị người SDLĐ tập hợp hồ sơ liên quan, đề nghị cơ quan BHXH (nơi đang quản lý thu) xem xét, thực hiện điều chỉnh thông tin ghi trên sổ BHXH để làm căn cứ tính hưởng BHXH.