Liên quan nội dung này, UBND phường thông tin như sau: Phường Điện Bàn của Đà Nẵng được sáp nhập từ phường Vĩnh Điện, phường Điện Minh, phường Điện Phương từ 01/7/2025 theo quy định tại Nghị quyết 1659/NQ UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Theo quy định trên, không có sáp nhập xã Điện Phước vào phường Điện Bàn.
Do đó, UBND phường không có cơ sở để trả lời cho công dân các nội dung liên quan đến các xã, phường khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và thông tin cho Cổng thông tin điện tử thành phố. Đề nghị công dân liên hệ xã Điện Bàn Tây để giải đáp các thắc mắc liên quan hoặc Cổng thông tin điện tử thành phố chuyển nội dung đến UBND xã Điện Bàn Tây để xem xét, phản hồi.
Liên quan nội dung này, qua tổng hợp các dự án hiện có trên địa bàn phường Điện Bàn hiện nay, không có dự án mang tên Dự án 7B mở rộng hay dự án 7B. Do đó, UBND phường không có cơ sở để trả lời cho công dân và thông tin cho Cổng thông tin điện tử thành phố.
Thuế cơ sở 3 thành phố Đà Nẵng có tiếp nhận Phiếu chuyển số 10030/PC-DAN của Cục Thuế thành phố Đà Nẵng về việc trả lời độc giả trên Công thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng đối với vướng mắc của độc giả Sinh Ngô về lệ phí trước bạ xe ô tô. Liên quan đến nội dung này, ngày 17/9/2026, Thuế cơ sở 3 cũng đã nhận được Đơn đề nghị của bà Trần Thị Thúy Vân (người nhà của độc giả Sinh Ngo), gửi trực tiếp tại cơ quan thuế, về việc rà soát giá tính lệ phí trước bạ xe.
Vấn đề này Thuế cơ sở 3 xin trả lời như sau:
Theo nội dung và hồ sơ mà bà Vân cung cấp, bà Vân có mua một xe ô tô con với giá thanh toán: 500.000.000 đồng của Công Ty Cổ Phần Sản Xuất Thương Mại Và Dịch Vụ Ô Tô PTM – Chi Nhánh Đà Nẵng số hóa đơn 259 ký hiệu 1C26TDN ngày 16/9/2026 nhãn hiệu MG, tên thương mại HS 15.T LUX, mã kiểu loại: MFNMSG172FY, xe 5 chỗ, thể tích 1.490 cc năm sản xuất 2024, nước sản xuất Thái Lan. Qua tìm hiểu bà Vân có so sánh và thắc mắc về giá tính lệ phí trước bạ đối dòng xe trên.
Đối chiếu tại Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 30/1/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với ô tô, xe máy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thì dòng xe trên có giá tính lệ phí trước bạ là 749.000.000 là đúng.
Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận Đơn đề nghị của bà Vân, để thận trọng trong giải quyết hồ sơ cũng như có căn cứ trả lời cho bà Vân, Thuế cơ sở 3 đã có công văn số 13574/TCS-QLTK ngày 18/9/2026 gởi Thuế TP Đà Nẵng báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo để thực hiện tính lệ phí trước bạ cho người nộp thuế.
Khi nhận văn bản từ Thuế thành phố, Thuế cơ sở 3 sẽ liên lạc và thông tin cho người nộp thuế được biết. Trường hợp có vướng mắc, đề nghị liên hệ trực tiếp đến Thuế cơ sở 3 (số điện thoai: 0236.3946.239) để được hướng dẫn./.
Ngày 09/07/2026 Tôi có gửi đơn đề nghị hòa giải tại cơ cở đến UBND Phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng qua đường bưu điện. đề nghị hòa giải tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa tôi và ông Nguyễn Anh Phương, sinh năm 1993, thường trú tại thôn Tam Hòa, xã Hà Nha, thành phố Đà Nẵng liên quan đến thửa đất có địa chỉ tại Lô 8-B3.14 Khu đô thị Phú Mỹ An, phường Hòa Hải, quận ngũ Hành Sơn, nay là phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. nhưng đến nay tôi không nhận được bất kỳ thông báo, phản hồi nào từ UBND phường Ngũ Hành Sơn về việc giải quyết đơn của công dân. điều này đã làn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đòi sống của tôi. đã hơn 02 tháng trôi qua vì vậy tôi xin hỏi quy trình xử lý, tiếp nhận đơn của UBND phường Ngũ Hành Sơn đã đúng chưa, và cách giải quyết sắp tới như thế nào. xin trả lờ cho tôi biết. Trân trọng cảm ơn.
Qua nội dung hỏi của ông Huỳnh Đức Tài, UBND phường Ngũ Hành Sơn đã ban hành Thông báo số 3670/TB-UBND ngày 15/7/2026 về việc không thụ lý yêu cầu hoà giải tranh chấp đất đai (có Thông báo đính kèm).
Vậy UBND phường thông báo cho ông Huỳnh Đức Tài được biết
Tôi đã nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú, mã hồ sơ G01.863.807-260912-8900034, trên ứng dụng VNeID vào ngày 12/09/2026.
Tuy nhiên, đến nay 16/09/2026, khi kiểm tra lại trên VNeID, hồ sơ vẫn đang hiển thị trạng thái “Mới đăng ký”, chưa được chuyển sang trạng thái tiếp nhận hoặc xử lý.
Kính đề nghị cơ quan/đơn vị có thẩm quyền kiểm tra tình trạng hồ sơ đăng ký tạm trú nêu trên và hỗ trợ xử lý, đồng thời cập nhật trạng thái hồ sơ trên VNeID để tôi được biết.
Xin cảm ơn!
Kính đề nghị công dân liên hệ trực tiếp Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (gọi tắt là Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH) tại Đà Nẵng có trụ sở chính tại số 183A Phan Đăng Lưu, phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng (số điện thoại trực ban 0694260116)
UBND phường Ngũ Hành Sơn đã chuyển câu hỏi của công dân Nguyễn Trọng Sỹ liên quan đến bãi giữ xe tại lối xuống biển Hồ Xuân Hương đến Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng và ngày 22/9/2026 đã nhận được văn bản trả lời số 859/BQL-KHĐT của Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng (đính kèm công văn), UBND phường thông tin đến công dân được biết./.
Liên quan nội dung này, ngày 11/12/2025, Hội đồng nhân dân thành phố ban hành Nghị quyết số 50/2025/NQ-HDND quy định chính sách hỗ trợ cho trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; học sinh, sinh viên khuyết tật và mức hỗ trợ kinh phí phục vụ nấu ăn đối với các trường có tổ chức nấu ăn cho trẻ em mần non, học sinh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Nghị quyết số 50/2025/NQ-HDND), có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026. Theo đó, đối với trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số thuộc phạm vi điều chỉnh tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 50/2025/NQ-HDND “1. Quy định chính sách hỗ trợ đối với trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; học sinh, sinh viên khuyết tật đang học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”.
Về chính sách hỗ trợ theo khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 50/2025/NQHĐND: “3. Học sinh phổ thông quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 2 Nghị quyết này: Hỗ trợ tiền ăn và chi phí học tập: 1.200.000 đồng/học sinh/tháng; thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế và không quá 09 tháng/năm học”.
- Đối với nội dung liên quan đến kinh phí hỗ trợ: nội dung này thuộc lĩnh vực tham mưu quản lý của các Sở ngành liên quan: Sở Giáo dục và Đào tạo (cơ quan chủ trì tổng hợp, gửi Sở Tài chính tham mưu bố trí kinh phí); Sở Tài chính (cơ quan tổng hợp dự toán kinh phí, tham mưu cấp thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện), theo văn bản số 1764/UBND-SGDĐT ngày 17/3/2026 của UBND thành phố triển khai thực hiện Nghị quyết số 50/2025/NQ-HDND.
Tôi có 01 lô đất số BB 504942, thửa đất số 1967, tờ bản đồ số 09 cấp ngày 06/08/2010, đứng tên Trần Thụy Lộc. Thông qua việc tôi đã mua lô đất của bà Đỗ Thị Hương và đã được UBND Huyện Hòa Vang ( cũ) cấp giấy chứng nhận do ông Phó chủ tịch Đặng Phú Hành ( lô đất có Giấy chứng nhận – Quyền Sử Dụng Đất – Quyền Sở Hữu Nhà Ở và Tài Sản Khác Gắn Liền Với Đất ) là của tôi.
Đến ngày 12/10/2011 UBND huyện Hòa Vang ban hành Quyết định số 8659/QĐ của UBND huyện Hòa Vang về việc thu hồi hủy bỏ quyết định số 341/QĐ - UBND ngày 20/05/2010 của UBND huyện Hòa Vang về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Và đến ngày 13/07/2012 Ủy Ban Nhân Dân Huyện Hòa Vang ra quyết định số 2656/QĐ –UBND về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy Chứng Nhận QSDĐ-QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 504942 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 06/08/2010.
Và đến ngày 05/10/2011 Ủy Ban Nhân Dân Huyện Hòa Vang ra thông báo 130/TB- UBND về việc không giải quyết chứng thực việc dăng ký thế chấp,chuyển nhượng quyền sử dụng đât đối với một số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 05 xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương.
Sau khi gửi đơn kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, tôi được Tòa tuyên án: hủy những quyết định trên của UBND huyện Hòa Vang theo bản án số 41/2024/HC-ST ngày 06/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và đến nay đã có hiệu lực.
Sau khi Ủy ban nhân dân Huyện Hòa Vang thực hiện sáp nhập và lô đất của tôi hiện nay thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân Phường Hòa Xuân. Các hồ sơ, văn bản về 64 lô đất Quan Châu cũng như lô đất của tôi Ủy ban nhân dân Huyện Hòa Vang đã bàn giao cho Phường Hòa Xuân. Tôi có gửi đơn kiến nghị đến phường Hòa Xuân và được nhận quyết định số 1297/QĐ-UBND ký ngày 20/07/2026 về việc thu hồi, hủy bỏ quyết định số 2656/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 và quyết định số: 8659/QĐ-UBND ngày của UBND huyện Hòa Vang.
Nhưng đến thời điểm hiện tại, khi tôi liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Khu vực 3 (phụ trách địa bàn 02 phường: Cẩm Lệ, Hòa Xuân) để thực hiện việc gia hạn đất nông nghiệp ( trong GCN của tôi có 16m² đất nông nghiệp hết hạn năm 2014) thì lại không được tiếp nhận hồ sơ do lý do hồ sơ gốc của lô đất này còn phong tỏa. không thực hiện được việc gia hạn, phải đợi . Tôi không biết phải đợi gì nữa?
Hiện tại tôi đã tuổi cao sức yếu ( 70 tuổi), tôi muốn làm thủ tục chuyển nhượng lô đất này cho 1 đứa con của tôi ( Tôi có 5 đứa con) . Để sau khi tôi già lẫn, hay mất đi thì không xảy ra những tranh chấp đáng tiếc giữa những đứa con. Nhưng hồ sơ lại vướng chỗ gia hạn đất nông nghiệp. Mà nộp hồ sơ thì không được tiếp nhận.
Tôi muốn hỏi các cấp chính quyền là vì sao hồ sơ của tôi vẫn còn phong tỏa trong khi Tòa án đã tuyên hủy những QĐ thu hồi trên và UBND phường Hòa Xuân cũng đã ra QĐ hủy bỏ những QĐ thu hồi trên. Khi nào thì tôi mới được hưởng đúng quyền của tôi theo như GCN tôi đang sở hữu. Từ năm 2010 đến nay 2026 là đã 16 năm, người dân chúng tôi lao đao, bế tắc. Chúng tôi đã làm đúng nghĩa vụ của mình để được sở hữu tài sản này ( tài sản hợp pháp), nhưng lại không được thực hiện quyền của mình trên chính tài sản của mình. Không một ai chịu trách nhiệm cho sự tắc trách mà để 65 hộ dân chúng tôi lao đao. Xin một câu trả lời từ các cấp chính quyền.
Tôi xin cảm ơn.
Qua nghiên cứu nội dung, Văn phòng Đăng ký đất đai có ý kiến như sau:
“Thửa đất số: 1967 (759 cũ), tờ bản đồ số: 9, địa chỉ tại: Thôn Quan Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (nay là phường Hòa Xuân) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BB 504942 ngày 06/8/2010 hiện đứng tên bà Trần Thụy Lộc có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của hộ: Đỗ Thị Hương vào ngày 27/7/2010; thuộc danh sách các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở đề nghị thu hồi theo Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 của Chánh Thanh tra thành phố Đà Nẵng (STT: 3)
Thực hiện nội dung Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP, UBND huyện Hòa Vang đã lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng vàthu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp đối với các thửa đất (trong đó cóthửa đất đứng tên bà Trần Thụy Lộc).
Các hộ dân (trong đó có bà Lộc) đã khởi kiện đối với việc thu hồi, hủy bỏ các quyết định “hủy bỏ quyết định chuyển mục đích” và quyết định “thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận QSDĐ” không đúng theo Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP đếnTòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Theo đó, nội dung các Bản án tuyên hủy mộtphần nội dung tại Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP và các Bản án đã có hiệu lựcpháp luật.
UBND các xã: Hòa Vang, phường Hòa Xuân (trước đây là UBND huyện Hòa Vang) đã và đang thực hiện thi hành các Bản án nói trên. Tuy nhiên, việc thực hiện các nội dung trong Bản án sẽ dẫn đến việc không thể thực hiện được Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP (theo Báo cáo số 998/BC-SNNMT ngày 13/8/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường).
Vừa qua, UBND thành phố đã ban hành Công văn số 8654/UBND-ĐTĐT ngày 28/8/2026 về việc rà soát, xử lý kết quả thực hiện các kết luận thanh tra về quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Hòa Vang (cũ). Theo đó, Chủ tịch UBND thành phố ý kiến: Giao Thanh tra thành phố chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nội vụ và các địa phương liên quan rà soát kết quả thực hiện các Kết luận thanh tra (trong đó có Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP); xác định rõ nội dung đã hoàn thành, chưa hoàn thành, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý; làm rõ số liệu về thu hồi, hủy bỏ quyết định chuyển mục đích sử dụng đất, Giấy chứng nhận QSDĐ.
Như vậy, đến thời điểm hiện nay, Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP đang được tổ chức triển khai thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố và chưa có kết quả. Do đó, Chi nhánh Khu vực III chưa có cơ sở tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với các thửa đất thuộc trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở đề nghị thu hồi theo Kết luận thanh tra nói trên”.
Từ những nội dung nêu trên, Văn phòng Đăng ký đất đai nhận thấy hiện nay Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/09/2011 của Chánh Thanh tra thành phố Đà Nẵng vẫn còn hiệu lực pháp luật. Do đó, Văn phòng Đăng ký đất đai chưa có cơ sở để tiếp nhận giải quyết hồ sơ cho công dân.
Thửa đất diện tích 3.080 m², được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1997 đứng tên bà nội tôi; trên Giấy chứng nhận chỉ thể hiện “đất ở và vườn”, chưa xác định cụ thể diện tích đất ở. Hồ sơ 299 thể hiện 500 m² đất “T”, nguồn gốc sử dụng đất trước ngày 18/12/1980.
Ngày 14/7/2021, trên chính Giấy chứng nhận có xác nhận “Để thừa kế cho ông Nguyễn Mua”, ông Nguyễn Mua nhận thừa kế toàn bộ thửa đất 3.080 m².
Nay căn cứ khoản 6 Điều 4 Quyết định 56/2026/QĐ-UBND và điểm b khoản 2 Điều 20 Nghị định 49/2026/NĐ-CP, kính đề nghị Sở cho biết:
1. Trường hợp Giấy chứng nhận được cấp trước ngày 01/7/2004, sau đó đã được xác nhận thay đổi trên chính Giấy chứng nhận do nhận thừa kế toàn bộ thửa đất, nhưng vẫn chưa xác định cụ thể diện tích đất ở, có thuộc trường hợp ngoại lệ tại điểm b khoản 2 Điều 20 Nghị định 49/2026/NĐ-CP để được xác định lại diện tích đất ở hay không?
2. Nếu được xác định lại, trường hợp trên được xác định diện tích đất ở theo quy định nào và hồ sơ 299 ghi 500 m² đất “T” được sử dụng như thế nào khi xác định diện tích đất ở?
Kính đề nghị cơ quan trả lời cụ thể đối với trường hợp nêu trên để gia đình tôi có cơ sở thực hiện. Xin trân trọng cảm ơn.
Qua nghiên cứu nội dung, Sở Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 14 của Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ, quy định:
"2. Quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp, đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp:
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền cấp xã quyết định giao đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, xác định lại diện tích đất ở”;
Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì việc xác định diện tích đất ở và cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND xã phường.
Tại dự án mở rộng Quốc lộ 14E, tôi thuộc diện đền bù giả phóng mặt bằng mở rộng đường. Năm 2022 tôi có trồng 1295 cây keo đường kính 15-30cm đã được kiểm kê. Theo quy định mật độ của tỉnh Quảng Nam cũ (5000 cây/ hecta). Tuy nhiên, do sáp nhập nên tôi chưa được chi trả đền bù theo quyết định cũ của Quảng Nam. Hiện nay tôi được áp giá và mật độ cây trồng theo Quyết định 81/2026/QĐ-UBND TP Đà Nẵng (mật độ 2500 cây/ hecta). Theo quyết định mới tôi vượt mật độ 648 cây. Khi áp giá đền bù theo quyết định mới tôi được tính tiền như sau: 647 cây x 47,600 + 648 cây x 47,600 x 40% = 43.135.120 đồng. Tôi muốn hỏi cách tính đó của trung tâm GPMB đã đúng chưa? Việc cây trồng vượt mật độ có được tính lũy kế bậc thang vượt lên dần theo các mức quy định tại Khoản 1 Phụ lục V: Quy định mật độ để tính đơn giá bồi thường cho các loại cây trồng lâu năm, rừng trồng Tại Quyết định 81/2026/QĐ-UBND khồng? vì sao không tính bậc thang vượt mà tính mật độ vượt cao nhất để nhân với tỉ lệ % đơn giá?. Nếu tính theo công thức trên thì tôi bị thiệt hại do không được tính theo bậc thang vượt mật độ từ 30-50%. 50-80% và từ 80% trở lên
Qua nghiên cứu kiến nghị của công dân liên quan đến quy định tỷ lệ đơn giá cây trồng bồi thường vượt mật độ quy định tại Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND của UBND thành phố về đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi, rừng tự nhiên, rừng trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND), Sở Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến trả lời như sau:
1. Quan điểm trong xây dựng đơn giá bồi thường cây trồng, con vật nuôi
Việc xây dựng đơn giá và định mức mật độ bồi thường được thực hiện trên nguyên tắc bảo đảm khách quan, công khai, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng, quy trình kỹ thuật và giá trị thực tế của từng loại cây trồng; đồng thời hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người có đất thu hồi. Mức bồi thường phải bảo đảm bù đắp thiệt hại thực tế, tạo điều kiện để người dân ổn định đời sống và sản xuất, nhưng không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế; bảo đảm công bằng giữa các hộ dân, sử dụng ngân sách nhà nước tiết kiệm, hiệu quả và phòng ngừa việc trồng cây với mật độ bất thường nhằm làm gia tăng giá trị bồi thường. Trong quá trình thực hiện, đơn giá và định mức mật độ cần được thường xuyên rà soát, điều chỉnh khi cần thiết để phù hợp với thực tiễn sản xuất và biến động giá cả tại địa phương.
2. Đối với kiến nghị của công dân
Theo Phụ lục V ban hành kèm theo Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND, nhóm keo lai, keo tai tượng, keo lá tràm trồng thuần loài có mật độ tối đa để tính bồi thường là 2.500 cây/ha. Theo số liệu công dân cung cấp thì đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường xác định, số cây theo mật độ quy định là 647 cây, số cây trồng thực tế là 1.295 cây “Công dân không cung cấp rõ thông tin 1.295 cây được trồng trong phạm vi bao nhiêu ha (mật độ trồng theo quy định là 2.500 cây/ha), căn cứ số lượng cây giống vượt mật độ theo xác định của trung tâm GPMB thì phạm vi trồng 1.295 cây nêu trên được xác định trên diện tích 2.588 m2 (tương ứng 0,2588 ha)” (đk gốc: 15 – 30 cm), phần vượt mật độ là 648 cây. Tỷ lệ vượt mật độ được xác định như sau: 648 cây/647 cây x 100% = 100,15%.
Do tỷ lệ vượt từ 80% trở lên nên toàn bộ số cây vượt mật độ được áp dụng mức bằng 40% đơn giá. Giá trị bồi thường được tính: (647 cây × 47.600 đồng/cây) + (648 cây × 47.600 đồng/cây × 40%) = 43.135.120 đồng.
Tại gạch đầu dòng (-) thứ 3 điểm 1 Phụ lục V Quyết định số 81/2026/QĐUBND quy định: "Trường hợp mật độ cây trồng vượt mật độ quy định từ 80% trở lên thì giá bồi thường thiệt hại được tính bằng 40% đơn giá tại Phụ lục II" và không quy định tách phần cây vượt thành từng khoảng để tính đơn giá lũy tiến (mức 80%, 60% và 40%), do đó không có cơ sở lần lượt tính một phần số cây vượt theo mức 80%, phần tiếp theo mức 60% và phần còn lại theo mức 40% như kiến nghị. Cách tính nêu trên của Trung tâm giải phòng mặt bằng (nếu xác định trồng 1.295 cây trong phạm vi 2.588 m2 , tương ứng 0,2588 ha) là phù hợp với Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND (nội dung này cũng đã được Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn cụ thể tại điểm b khoản 1 Công văn số 12389/SNNMT-KHTC ngày 03/9/2026 gửi các địa phương).
Việc quy định mật độ xuất phát từ yêu cầu bảo đảm bồi thường đúng giá trị thiệt hại thực tế. Đơn giá bồi thường cho từng cây được xây dựng trên cơ sở cây có không gian sinh trưởng và điều kiện chăm sóc bình thường. Khi cây được trồng quá dày, khả năng sinh trưởng, năng suất và giá trị của từng cây không thể được xác định tương đương với cây trồng đúng mật độ.
Bên cạnh thành phố Đà Nẵng, một số địa phương cũng quy định mật độ đền bù theo từng mức cụ thể với các hình thức như: không bồi thường phần vượt mật độ “Đồng Nai (Quyết định 48/2025/QĐ-UBND); Tây Ninh (Quyết định 115/2026/QĐ-UBND)”hoặc giảm tỷ lệ đơn giá đối với phần vượt “Gia Lai (Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND và 123/2026/QĐ-UBND) ; Bắc Ninh (Quyết định số 89/2025/QĐUBND và 23/2026/QĐ-UBND); Cần Thơ (Quyết định số 66/2025/QĐ-UBND); Quảng Ninh (Quyết định số 06/2025/QĐ-UBND)” (áp dụng một mức duy nhất cho toàn bộ số cây vượt và không tích lũy tiến theo khung); đây là quy định cần thiết nhằm vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người có đất thu hồi nhưng cũng tạo sự công bằng giữa các hộ dân và hài hòa lợi ích của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, chưa có căn cứ để thực hiện cách tích lũy tiến các mức đơn giá đền bù 80%, 60% và 40% đối với mật độ cây trồng vượt như đề nghị của công dân theo đơn kiến nghị nêu trên.