Thuế Thành phố Đà Nẵng đã liên hệ độc giả và được thông báo vướng mắc của độc giả đã được Thuế cơ sở 1 Thành phố Đà Nẵng tư vấn xử lý./.
Sở Xây dựng đã rà soát và có ý kiến như sau: Kiến nghị nêu trên thuộc phạm vi quản lý của UBND phường Liên Chiểu. Kính đề nghị Ban Biên tập chuyển kiến nghị nêu trên đến UBND phường Liên Chiểu xử lý, trả lời công dân.
Thuế cơ sở 3 thành phố Đà Nẵng có tiếp nhận Phiếu chuyển số 10030/PC-DAN của Cục Thuế thành phố Đà Nẵng về việc trả lời độc giả trên Công thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng đối với vướng mắc của độc giả Sinh Ngô về lệ phí trước bạ xe ô tô. Liên quan đến nội dung này, ngày 17/9/2026, Thuế cơ sở 3 cũng đã nhận được Đơn đề nghị của bà Trần Thị Thúy Vân (người nhà của độc giả Sinh Ngo), gửi trực tiếp tại cơ quan thuế, về việc rà soát giá tính lệ phí trước bạ xe.
Vấn đề này Thuế cơ sở 3 xin trả lời như sau:
Theo nội dung và hồ sơ mà bà Vân cung cấp, bà Vân có mua một xe ô tô con với giá thanh toán: 500.000.000 đồng của Công Ty Cổ Phần Sản Xuất Thương Mại Và Dịch Vụ Ô Tô PTM – Chi Nhánh Đà Nẵng số hóa đơn 259 ký hiệu 1C26TDN ngày 16/9/2026 nhãn hiệu MG, tên thương mại HS 15.T LUX, mã kiểu loại: MFNMSG172FY, xe 5 chỗ, thể tích 1.490 cc năm sản xuất 2024, nước sản xuất Thái Lan. Qua tìm hiểu bà Vân có so sánh và thắc mắc về giá tính lệ phí trước bạ đối dòng xe trên.
Đối chiếu tại Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 30/1/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với ô tô, xe máy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thì dòng xe trên có giá tính lệ phí trước bạ là 749.000.000 là đúng.
Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận Đơn đề nghị của bà Vân, để thận trọng trong giải quyết hồ sơ cũng như có căn cứ trả lời cho bà Vân, Thuế cơ sở 3 đã có công văn số 13574/TCS-QLTK ngày 18/9/2026 gởi Thuế TP Đà Nẵng báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo để thực hiện tính lệ phí trước bạ cho người nộp thuế.
Khi nhận văn bản từ Thuế thành phố, Thuế cơ sở 3 sẽ liên lạc và thông tin cho người nộp thuế được biết. Trường hợp có vướng mắc, đề nghị liên hệ trực tiếp đến Thuế cơ sở 3 (số điện thoai: 0236.3946.239) để được hướng dẫn./.
Tôi đã nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú, mã hồ sơ G01.863.807-260912-8900034, trên ứng dụng VNeID vào ngày 12/09/2026.
Tuy nhiên, đến nay 16/09/2026, khi kiểm tra lại trên VNeID, hồ sơ vẫn đang hiển thị trạng thái “Mới đăng ký”, chưa được chuyển sang trạng thái tiếp nhận hoặc xử lý.
Kính đề nghị cơ quan/đơn vị có thẩm quyền kiểm tra tình trạng hồ sơ đăng ký tạm trú nêu trên và hỗ trợ xử lý, đồng thời cập nhật trạng thái hồ sơ trên VNeID để tôi được biết.
Xin cảm ơn!
Kính đề nghị công dân liên hệ trực tiếp Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (gọi tắt là Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH) tại Đà Nẵng có trụ sở chính tại số 183A Phan Đăng Lưu, phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng (số điện thoại trực ban 0694260116)
Tại dự án mở rộng Quốc lộ 14E, tôi thuộc diện đền bù giả phóng mặt bằng mở rộng đường. Năm 2022 tôi có trồng 1295 cây keo đường kính 15-30cm đã được kiểm kê. Theo quy định mật độ của tỉnh Quảng Nam cũ (5000 cây/ hecta). Tuy nhiên, do sáp nhập nên tôi chưa được chi trả đền bù theo quyết định cũ của Quảng Nam. Hiện nay tôi được áp giá và mật độ cây trồng theo Quyết định 81/2026/QĐ-UBND TP Đà Nẵng (mật độ 2500 cây/ hecta). Theo quyết định mới tôi vượt mật độ 648 cây. Khi áp giá đền bù theo quyết định mới tôi được tính tiền như sau: 647 cây x 47,600 + 648 cây x 47,600 x 40% = 43.135.120 đồng. Tôi muốn hỏi cách tính đó của trung tâm GPMB đã đúng chưa? Việc cây trồng vượt mật độ có được tính lũy kế bậc thang vượt lên dần theo các mức quy định tại Khoản 1 Phụ lục V: Quy định mật độ để tính đơn giá bồi thường cho các loại cây trồng lâu năm, rừng trồng Tại Quyết định 81/2026/QĐ-UBND khồng? vì sao không tính bậc thang vượt mà tính mật độ vượt cao nhất để nhân với tỉ lệ % đơn giá?. Nếu tính theo công thức trên thì tôi bị thiệt hại do không được tính theo bậc thang vượt mật độ từ 30-50%. 50-80% và từ 80% trở lên
Qua nghiên cứu kiến nghị của công dân liên quan đến quy định tỷ lệ đơn giá cây trồng bồi thường vượt mật độ quy định tại Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND của UBND thành phố về đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi, rừng tự nhiên, rừng trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND), Sở Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến trả lời như sau:
1. Quan điểm trong xây dựng đơn giá bồi thường cây trồng, con vật nuôi
Việc xây dựng đơn giá và định mức mật độ bồi thường được thực hiện trên nguyên tắc bảo đảm khách quan, công khai, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng, quy trình kỹ thuật và giá trị thực tế của từng loại cây trồng; đồng thời hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người có đất thu hồi. Mức bồi thường phải bảo đảm bù đắp thiệt hại thực tế, tạo điều kiện để người dân ổn định đời sống và sản xuất, nhưng không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế; bảo đảm công bằng giữa các hộ dân, sử dụng ngân sách nhà nước tiết kiệm, hiệu quả và phòng ngừa việc trồng cây với mật độ bất thường nhằm làm gia tăng giá trị bồi thường. Trong quá trình thực hiện, đơn giá và định mức mật độ cần được thường xuyên rà soát, điều chỉnh khi cần thiết để phù hợp với thực tiễn sản xuất và biến động giá cả tại địa phương.
2. Đối với kiến nghị của công dân
Theo Phụ lục V ban hành kèm theo Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND, nhóm keo lai, keo tai tượng, keo lá tràm trồng thuần loài có mật độ tối đa để tính bồi thường là 2.500 cây/ha. Theo số liệu công dân cung cấp thì đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường xác định, số cây theo mật độ quy định là 647 cây, số cây trồng thực tế là 1.295 cây “Công dân không cung cấp rõ thông tin 1.295 cây được trồng trong phạm vi bao nhiêu ha (mật độ trồng theo quy định là 2.500 cây/ha), căn cứ số lượng cây giống vượt mật độ theo xác định của trung tâm GPMB thì phạm vi trồng 1.295 cây nêu trên được xác định trên diện tích 2.588 m2 (tương ứng 0,2588 ha)” (đk gốc: 15 – 30 cm), phần vượt mật độ là 648 cây. Tỷ lệ vượt mật độ được xác định như sau: 648 cây/647 cây x 100% = 100,15%.
Do tỷ lệ vượt từ 80% trở lên nên toàn bộ số cây vượt mật độ được áp dụng mức bằng 40% đơn giá. Giá trị bồi thường được tính: (647 cây × 47.600 đồng/cây) + (648 cây × 47.600 đồng/cây × 40%) = 43.135.120 đồng.
Tại gạch đầu dòng (-) thứ 3 điểm 1 Phụ lục V Quyết định số 81/2026/QĐUBND quy định: "Trường hợp mật độ cây trồng vượt mật độ quy định từ 80% trở lên thì giá bồi thường thiệt hại được tính bằng 40% đơn giá tại Phụ lục II" và không quy định tách phần cây vượt thành từng khoảng để tính đơn giá lũy tiến (mức 80%, 60% và 40%), do đó không có cơ sở lần lượt tính một phần số cây vượt theo mức 80%, phần tiếp theo mức 60% và phần còn lại theo mức 40% như kiến nghị. Cách tính nêu trên của Trung tâm giải phòng mặt bằng (nếu xác định trồng 1.295 cây trong phạm vi 2.588 m2 , tương ứng 0,2588 ha) là phù hợp với Quyết định số 81/2026/QĐ-UBND (nội dung này cũng đã được Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn cụ thể tại điểm b khoản 1 Công văn số 12389/SNNMT-KHTC ngày 03/9/2026 gửi các địa phương).
Việc quy định mật độ xuất phát từ yêu cầu bảo đảm bồi thường đúng giá trị thiệt hại thực tế. Đơn giá bồi thường cho từng cây được xây dựng trên cơ sở cây có không gian sinh trưởng và điều kiện chăm sóc bình thường. Khi cây được trồng quá dày, khả năng sinh trưởng, năng suất và giá trị của từng cây không thể được xác định tương đương với cây trồng đúng mật độ.
Bên cạnh thành phố Đà Nẵng, một số địa phương cũng quy định mật độ đền bù theo từng mức cụ thể với các hình thức như: không bồi thường phần vượt mật độ “Đồng Nai (Quyết định 48/2025/QĐ-UBND); Tây Ninh (Quyết định 115/2026/QĐ-UBND)”hoặc giảm tỷ lệ đơn giá đối với phần vượt “Gia Lai (Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND và 123/2026/QĐ-UBND) ; Bắc Ninh (Quyết định số 89/2025/QĐUBND và 23/2026/QĐ-UBND); Cần Thơ (Quyết định số 66/2025/QĐ-UBND); Quảng Ninh (Quyết định số 06/2025/QĐ-UBND)” (áp dụng một mức duy nhất cho toàn bộ số cây vượt và không tích lũy tiến theo khung); đây là quy định cần thiết nhằm vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người có đất thu hồi nhưng cũng tạo sự công bằng giữa các hộ dân và hài hòa lợi ích của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, chưa có căn cứ để thực hiện cách tích lũy tiến các mức đơn giá đền bù 80%, 60% và 40% đối với mật độ cây trồng vượt như đề nghị của công dân theo đơn kiến nghị nêu trên.
Kính gửi Ông Nguyễn Văn Nam
Theo nội dung ý kiến của công dân. Sở Tài chính trả lời như sau:
Về kinh phí thực hiện chính sách theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ, ngân sách thành phố đã bố trí đảm bảo theo nhu cầu của UBND xã Khâm Đức, thành phố Đà Nẵng để thực hiện chi trả kịp thời chế độ, chính sách cho các đối tượng theo quy định với số tiền là 10.333 triệu đồng trước thời điểm 15/7/2026. Kính đề nghị quý công dân làm việc với cơ quan chủ quản và UBND xã Khâm Đức để được giải quyết.
Sở Tài chính trả lời để công dân được biết./.
Trân trọng
Do công dân chọn nhận trực tiếp do đó công dân có thể làm giấy ủy quyền có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc văn phòng công chứng cho người thân/bạn bè đang có mặt tại Đà Nẵng mang CCCD của bạn và họ đến nhận trực tiếp.
UBND phường Hải Châu phản hồi công dân như sau:
Thông tin cửa hàng mua bán do công dân cung cấp không rõ ràng nên phường xác định được có thuộc địa bàn quản lý của phường hay không. Nếu mua bán trên mạng xã hội, công dân nghi vấn hoặc phát hiện hành vi lừa đảo, đề nghị liên hệ cơ quan Công an để được giải quyết.
Trân trọng,
UBND phường Hải Châu
Kính gửi: UBND phường Ngũ Hành Sơn
Năm 2016, tôi được cấp giấy phép xây dựng ở đường Bá Giáng 1 với quy mô 2 tầng + 1 tum. Tuy nhiên, thực tế lúc đó tôi mới chỉ thi công xong tầng 1 (đổ 01 sàn bê tông) và xây cao 1mét lợp mái tôn tạm thời. Đến đầu năm 2027, tôi dự kiến sẽ tiếp tục xây dựng thêm tầng 2 (đổ thêm 01 sàn bê tông tầng 2) và xây tường xung quanh + lợp tôn.
Vậy xin hỏi tôi muốn làm thì tôi cần những hồ sơ thủ tục và đến cơ quan nào để xin lại ạ.
Rất mong cấp có thẩm quyền quan tâm và hỗ trợ.
Trân trọng./.
Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Ngũ Hành Sơn phân công cho bà Huỳnh Thị Phương Thảo trực tiếp liên hệ và hướng dẫn bà Nguyễn Thị Thùy Dung về hồ sơ, thủ tục cần làm như sau:
Qua nội dung phản ánh của bà Phan Thị Hồng Phương, Thuế cơ sở 3 thành phố Đà Nẵng có ý kiến trả lời như sau:
Bà Phan Thị Hồng Phương là người đại diện kê khai thuế và nộp thuế thay cho Hộ kinh doanh NKK - Ông Vũ Duy Khôi làm chủ hộ, có bất động sản cho thuê tại địa chỉ 64 Lê Quang Đạo, P. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Tại kỳ kê khai thuế Quý 1 và Quý 2/2026, Hộ kinh doanh NKK đã kê khai và xác định nộp thừa thuế TNCN với tổng số tiền là 18.900.000đ. Ngày 22/07/2026, hộ kinh doanh đã nộp văn bản đề nghị hoàn tiền thuế nộp thừa qua dichvucong.gdt.gov.vn. Đại diện Thuế cơ sở 3 TP Đà Nẵng đã liên hệ trực tiếp với Hộ kinh doanh NKK, chủ Hộ kinh doanh ông Vũ Duy Khôi đã quyết định thay đổi phương án xử lý đồng ý bù trừ số thuế nộp thừa vào số thuế phải nộp phát sinh các kỳ khai thuế sau. Ngày 10/08/2026 Hộ kinh doanh NKK đã gửi Công văn số 0126/CV-NKK xin hủy Tờ khai mẫu 01/ĐNXLNT gửi Thuế cơ sở 3 TP Đà Nẵng ngày 12/08/2026.
Thuế cơ sở 3 thành phố Đà Nẵng báo cáo đến Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng biết và phản hồi ý kiến đến bà Phan Thị Hồng Phương